ảnh phải

Hotline: 0912.760.377

DONGYPQA.VN

Giỏ hàng ( 0)

3 Loại Rau Má Thường Thấy Ở Việt Nam

Ngày đăng: 11-01-2021 | 3:32 PM | 77 Lượt xem | Người đăng: admin

Rau má - Centella asiatica (L.) Urb thuộc họ Hoa tán - Apiaceae.

Mô tả:

Cây thảo mọc bò, phân nhánh nhiều trên mặt đất. Rễ mọc từ các mấu của thân. Lá có cuống dài, phiến hình thận hoặc gân tròn, mép khía tai bèo. Cụm hoa hình tán đơn mọc ở nách lá gồm 1-5 hoa nhỏ không cuống màu trắng hoặc phớt đỏ. Quả dẹt, có sống hơi rõ.

Bộ phận dùng:

Toàn cây - Herba Centellae Asiaticae, thường có tên là Tích tuyết thảo.

Nơi sống và thu hái:

Loài liên nhiệt đới, mọc hoang khắp nơi, chỗ ẩm mát. Thu hái cây quanh năm, thường dùng tươi.

Tính vị, tác dụng:

Rau má có vị hơi đắng, ngọt, tính hơi mát, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tán ứ chỉ thống, lương huyết sinh tân, lợi niệu.

Thành phần hoá học

Trong cây có alcaloid là hydrocotulin và các glycosid asiaticosid và centellosid, có tác dụng tới các mô liên kết, giúp cho các mô tái tạo nhanh chóng, do đó làm các vết thương mau lành và lên da non. Chất asiaticosid có tác dụng kháng khuẩn (Do làm tan màng sáp của vi khuẩn) và làm cho vết thương mau chóng lên da non.

Rau má được nhiều người nghiên cứu, nhưng kết quả chưa thống nhất.

1. Theo Basu và Lamsal (1947), trong rau má có một ancaloit gọi là hydrocotylin C,H,O,N, có độ chảy 210-212°C. Ancaloit này cho các muối

oxalat với độ chảy 295C, muối picrat với độ chảy 110-1127, muối cloroplatinat với độ chảy 134136C.

2. Theo Bửu Hội, Rakoto Ratsimamanga và Boiteau, trong cây rau má thu hái ở đảo Mangat có chứa một glucozit gọi là asiaticozit với công thức CH 0, Thuỷ phân asiaticozit sẽ cho axit asiatic và glucoza. Chất glucozit này có tinh thể, tan trong rượu; độ chảy 230-233°C, có thể cho một dẫn xuất tan trong nước gọi là oxyasiaticozit có tác dụng điều trị được bệnh lao.

3. Một số tác giả khác (Lythgo và Trippet) nghiên cứu rau má mọc ở Xrilanca (1949) đã lấy ra được một glucozit khác đặt tên là xentelozit (ccntelloside) có tính chất gần như asiaticozit.

4. Hiện nay, một số tác giả cho rằng hoạt chất của rau má là những saponin (axit asiatic, axit brahmic) có cấu trúc tri-tecpen, có tác dụng tới mô liên kết, giúp cho các mô tái tạo nhanh chóng, do đó làm cho vết thương mau lành và lên da non

Công dụng và liều dùng

Rau má hiện nay còn là một vị thuốc dùng trong phạm vi nhân dân, đồng thời còn là loại rau người ăn được. Trong ca dao ta có câu: "Đói ăn rau mưng, rau má, Đừng ăn vất vả hư thân". Nhân dân coi vị rau má là một vị thuốc mát, vị ngọt, hơi đắng, tính bình, không độc.

Thường dùng trị cảm mạo phong nhiệt, thuỷ đậu sởi, sốt da vàng mặt, viêm họng, sưng amygdal, viêm khí quản, ho, viêm đường tiết niệu, đái dắt đái buốt, còn dùng trị thổ huyết, chảy máu cam, tả lỵ, khí hư, bạch đới, giải độc lá ngón và nhân ngôn. Dùng ngoài trị rắn cắn, mụn nhọt, lở ngứa và vết thương chảy máu.

Rau má dùng ăn sống hoặc ép lấy nước pha đường uống cho mát. Có thể giã lấy nước uống hoặc sắc uống làm thuốc giải nhiệt hoặc giải độc, lợi tiểu, cầm máu, trị kiết lỵ, táo bón. Ngày dùng 30-40g tươi. Dùng ngoài đắp chữa các vết thương do ngã gãy xương, bong gân và làm tan mụn nhọt. Rau má (300g) và phèn chua (3g) giã nhỏ, hoà nước Dừa, vắt lấy nước uống trị kinh nguyệt không đều, đau lưng, tức ngực, đau bụng máu, khô da, nhức đầu, nóng lạnh, bạch đới. Người ta đã chế Rau má thành những dạng pomat để chữa các vết thương phần mềm cho mau liền da, liền sẹo.

Thuốc rau má không độc, phụ nữ có thai vẫn dùng được.

Tại một số nước, người ta chú ý nghiên cứu rau má để tìm tác dụng chữa bệnh phổi và bệnh lao.

Theo tập san Société des amis du parc botanique de Tananarive, 1941 và 1942 tại Mangát, người ta dùng rau má chữa hủi có kết quả tốt hơn chế phẩm của đại phong tử. Năm 1949, Lythgọc và TriPret đã nghiên cứu tác dụng chữa hủi của xentelọzit, Ngoài ra, chất chế từ asiaticozt có tác dụng chống vi trùng lao.

Ở một số nước, người ta chế rau má dưới dạng:

1. Viên nén chứa 0,01g rau má để chữa các chứng dãn tĩnh mạch, chứng nặng chân do máu ở các tĩnh mạch chân chậm trở về tim. Ngày uống 3-6 viên vào bữa ăn.

2. Thuốc tiêm Iml chứa 0,02g cao rau má. Cách 1 ngày tiêm bắp 1 ống phối hợp bôi thuốc mỡ (1% cào rau máy hoặc thuốc bột chứa 2% cao rau má để chữa các vết bỏng, vết thương do chấn thương hoặc vết phẫu thuật, các tổn thương ở da và niêm mạc (tai, mũi, họng) hoặc sản phụ.

Các đơn thuốc có rau má

1. Chữa đau bụng, đi ỉa lỏng: Rau má (cả dây, cả lá rửa sạch, thêm ít muối, nhai sống. Ngày ăn chừng 30-40g (kinh nghiệm nhân dân nhiều nơi). Có thể luộc rau má mà ăn như ăn rau.

3. Chữa rôm sảy, mẩn ngứa: Hằng ngày ăn rau má trộn dầu dấm. Hoặc rau má hái về, giã nát, vắt lấy nước, thêm đường vào mà uống hằng ngày.

4. Chảy máu chân răng, chảy máu cam và các chứng chảy máu: Rau má 30g, Cỏ nhọ nồi và Trắc bá diệp mỗi vị 15g sao, sắc nước uống.

5. Khí hư bạch đới: Rau má phơi khô làm thành bột uống mỗi sáng dùng 2 thìa cà phê.

6. Thống kinh, đau lưng, đau bụng, ăn kém uể oải: Rau má 30g, ích mẫu 8g, Hương nhu 12g, Hậu phác 16g. Ðổ 600ml nước, sắc còn 200ml chia 2 lần uống trong ngày.

7. Viêm hạnh nhân: Rau má tươi giã lấy nước cốt, hoà ít giấm nuốt từ từ.

8. Ho, đái buốt, đái dắt: Rau má tươi giã lấy nước cốt uống hoặc sắc uống.

9. Viêm tấy, mẩn ngứa: Rau má trộn dầu giấm ăn, hoặc giã nát vắt lấy nước, thêm đường uống. 7. Thuốc lợi sữa: Rau má ăn tươi hay luộc ăn cả cái và nước.

Chú thích:

Ngoài vị rau má Centella asiatica nói trên, trong nhân dân ta còn dùng vị rau má mơ, rau má họ hay thiện hồ thái Hydrocotyle rotundifolia Roxb. Loại cỏ có thân mọc bò, nhỏ, mang rẻ ở những đốt; lá hình hơi tròn, mép khía tai bèo, đường kính nhỏ hơn loại trên, chừng 10-15mm, cuống dài 1-4cm, hoa nhỏ màu xanh nhạt. Quả dẹt, rộng chừng 1,5mm.

Cây này mọc hoang ở những nơi ẩm thấp khắp nước ta. Có mọc ở những nước nhiệt đới và á nhiệt đới châu Á và châu Phi. Nhân dân dùng toàn cây chữa bệnh gan.

Ngoài ra trong dân gian còn loại rau má khác như:

Rau má lá to

Rau má lá to, Rau má dại, Rau má rừng - Hydrocotyle nepalensis Hook, (H. javanica Thunb.), thuộc họ Hoa tán - Apiaceae.

Mô tả:

Cây thảo có thân mọc bò trên mặt đất, dài 0,5-1,2m. Thân mập, tròn, mọng nước. Lá mọc so le, hình mắt chim hay hình thận, có 7-8 thuỳ xẻ sâu, các thuỳ gốc choãi ra, thuỳ tròn, nhẵn, có khía răng cưa; gân lá có nhiều lông to ở gốc; cuống lá dài. Cụm hoa thường chụm lại ở ngọn cành, hơi ngắn hơn lá và mọc ở nách lá, trên một cuống chung dài 3-5cm có khi mọc đơn độc, thường xếp thành chùm 8- 15 tán có cuống ngắn, mỗi tán lá có 15-20 hoa nhỏ không cuống. Quả có cuống ngắn, có lông, mang những tuyến màu đỏ và có cạnh lồi không rõ lắm.

Bộ phận dùng:

Toàn cây - Herba Hydrocotyles Nepalensis.

Nơi sống và thu hái:

Loài phân bố ở Nêpan, Ấn Ðộ, Trung Quốc, Malaixia, Inđônêxia và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc ở chỗ ẩm ướt ven suối, ven rừng nơi ẩm và sáng ở nhiều vùng của nước ta từ Lạng Sơn, Hà Tĩnh, Bắc Thái, Khánh Hoà, Lâm Ðồng, Kontum, Ninh Thuận, có khi chúng mộc tập trung thành từng đám lớn.

Tính vị, tác dụng:

Vị cay, hơi đắng, có tác dụng chỉ huyết, chỉ thống tán ứ thanh nhiệt, thanh phế chỉ khái. Ở Ấn Ðộ, cũng được xem có tác dụng bổ mát, gây chuyển hoá, lợi tiểu.

Công dụng, chỉ định và phối hợp:

Lá non, chần qua nước sôi, dùng ăn ngay hoặc nấu canh, luộc, muối dưa. Ðồng bào Dao dùng toàn cây, giã ra, rắc xuống nước để duốc cá. Ở Xri Lanca và Malaixia người ta sử dụng cây này như rau má.

Ở Ấn Ðộ, cây dùng làm thuốc kích thích đối với bệnh ngoài da, lá dùng trị tiêu hoá kém, lỵ và làm thuốc sát trùng.

Ở Trung Quốc, cây dùng trị thổ huyết, ho, đau bụng, đòn ngã, gãy xương, ngứa lở, chó cắn.

Rau má mỡ

Rau má mỡ, Rau má họ, Rau má chuột - Hydrocotyle sibthorpioides Lam (H. rotumdifolia Roxb), thuộc họ Hoa tán - Apiaceae.

Mô tả:

Cây thảo nhỏ sống nhiều năm. Thân mọc bò, mang rễ ở các mấu. Lá hơi tròn, mép khía răng không đều. Cụm hoa hình tán mọc ở nách lá, mang 3- 8 hoa nhỏ màu trắng. Lá và cụm hoa đều có cuống dài. Quả dẹt nhẵn hoặc có lông rất nhỏ.

Bộ phận dùng:

Toàn cây - Herba Hydrocotyles, thường được gọi là Thiên hồ tuy.

Nơi sống và thu hái:

Loài cỏ nhiệt đới mọc hoang ở những chỗ ẩm thấp ven đường đi, bờ ruộng ẩm. Có thể thu hái toàn cây quanh năm. Rửa sạch, dùng tươi hoặc phơi hay sấy khô.

Thành phần hoá học: Các loại phenol, acid amin, đầu dễ bốc hơi và cumarin.

Tính vị, tác dụng:

Vị ngọt và đắng, hơi cay, tính bình; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, chỉ khái, lợi niệu, tán kết tiêu thũng.

Công dụng, chỉ định và phối hợp:

Thường được dùng trị: 1. Viêm gan vàng da; 2. Xơ gan cổ trướng sỏi mật, ỉa chảy; 3. Bệnh đường tiết niệu, sỏi niệu; 4. Cảm cúm, ho, ho gà; 5. Viêm miệng, viêm hầu, sưng amygdal viêm kết mạc; 6. Trẻ em cam tích. Ngày dùng 15-30g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài trị viêm kẽ mô quanh móng tay, eczema, bệnh zona, cụm nhọt và chảy máu cam. Dùng cây tươi giã nát đắp hoặc lấy nước xoa.

Ở Ấn Ðộ, cây dùng trị thấp khớp, các rối loạn về hô hấp và tiêu hoá, giang mai, bệnh ngoài da, còn dùng trị giun và lợi tiểu. Dịch lá dùng gây nôn. Có nơi dùng lá làm thuốc đắp mụn nhọt mau sưng mủ. Người ta cũng sử dụng tương tự như rau má.

Ðơn thuốc:

1. Viêm gan vàng da: Rau má mỡ tươi sắc nước uống, cũng có thể dùng cây tươi nấu cá diếc ăn.

2. Sỏi mật: Rau má mỡ, Liên tiền thảo. Bòng bong. Mã đề, dùng tươi, mỗi vị 30g, sắc uống chia làm 2-3 lần trong ngày.

3. Sỏi đường tiết niệu: Rau má mỡ. Thạch vi. Bán biên liên. Bòng bong mỗi vị 30g sắc nóng.

--------------------------------

Trích trong: 3033 CÂY THUỐC ĐÔNG Y Y HỌC CỔ TRUYỀN TUỆ-TĨNH

Tác giả: Dược sĩ Thu Hiền

Hotline: 0912.760.377 – 0386.243.559

-------------------------------- 

 

 Chia sẻ
 Xem thêm: Dược liệu,

Về chúng tôi